Đọt Cóc

TÊN KHOA HỌC: Spondias dulcis L.

NGUỒN GỐC: Có 3 giả thuyết:

– Giả thuyết thứ nhất cho là Chi Cóc có hai nguồn gốc Phát sinh: Nguồn gốc phát sinh thứ nhất ở Đông Nam Á và nguồn gốc thứ hai ở Nam Mỹ. Giả thuyết này ít được chấp nhận vì các loài cùng 1 Chi không thể có hai nguồn gốc phát sinh ở hai vùng địa lý rất xa nhau.

– Giả thuyết thứ hai cho là Chi Cóc phát sinh từ Nam Á, sau đó di chuyển sang vùng Đông Nam Á rồi đến các đảo Thái Bình Dương và cuối cùng đến Nam Mỹ.

– Giả thuyết thứ ba cho là Chi Cóc có xuất xứ từ vùng Melanesia- Polynesia (Châu Đại dương) và sau đó được du nhập để trồng tại các vùng nhiệt đới của cả Cựu lẫn Tân Thế giới.

MÔ TẢ

– Thân: Cây cóc thuộc loại cây thân mộc cở lớn, mọc nhanh, cao 8-18 m, trung bình 9-12 m, phân nhánh nhiều, cành dòn dễ gẫy.

– Lá: Lá kép, lẻ, to, dài 20-60 cm, mọc ở ngọn nhánh; lá mang 7-12 đôi lá chét dài 6.25-10 cm, hình thuôn tròn; mép lá có răng cưa. Vào đầu mua khô, lá cây chuyển đổi sang màu vàng tươi, rụng.

– Hoa: Hoa mọc thành chùy to, có thể dài đến 30 cm, chùy mang ít hoa thường thòng xuống. Hoa nhỏ, màu trắng, có 10 nhị.

– Quả: Quả thuộc loại quả hạch, hình trứng hay hình bầu dục, dài 6-8 cm, rộng 4-5 cm, da ngoài vàng-cam; thịt màu vàng-xanh nhạt, dòn, vị chua; Quả mọc thành chùm từ 2-12 quả , thòng xuống.

– Hạt: Hạt khá lớn hình bầu dục có nhiều gai dạng sợi dính chặt với thịt, có 5,6 ô cách nhau không đều.

THÀNH PHẦN HÓA HỌC: Qua phân tích, các nhà khoa học đã chứng minh được thành phần lá cóc như sau: glucid 8% -10,5%; protein 0,5% – 0,8%; lipid 0,3% – 1,8%; cellulose 0,9% – 3,6%; tro 0,4% – 0,7%; acid 0,4% – 0,8%.Trong 100 g thịt của trái cóc chứa tới 42 mg acid ascorbic, ngoài ra còn có nhiều chất sắt (Fe).

CÔNG DỤNG

Dân Nam Bộ thường dùng trái cóc còn xanh, gọt vỏ rồi ngâm trong một thứ nước pha mặn, ngọt, sau đó thoa lên một lớpmuối ớt đo đỏ trông rất hấp dẫn, bày bán nhiều nơi. Có người lại thích ăn cóc chín vì có thịt mềm, ngọt, nhiều nước, hương vị thơm ngon. Tuy nhiên, món gỏi cóc xanh với tôm khô, cá khô thì đúng điệu là món nhậu “đặc sản Nam Bộ”.

1. Dùng làm rau sống.

– Việt Nam, Indonesia, Malaysia lá và đọt cóc non có vị chua thanh, thơm nên được dùng làm rau ghém.

– Nam Bộ lá và đọt cóc non dược dùng chung với rau tập tàng. Lá cóc non còn được làm rau để nấu canh chua hoặc xắt nhỏ để bóp gỏi.

– Indonesia lá cóc non được ăn kèm với mắm tôm (hayko).

– Malaysia lá cóc non dược dùng chung với rau tập tàng (rujak).

2. Chữa bênh

– Trái cóc từ lâu đã được ghi nhận là có tác dụng kích thích tiêu hóa, giúp ăn ngon miệng, giải nhiệt, sinh tân dịch, giải khát.

– Nhai thật kỹ trái cóc với chút muối rồi nuốt dần còn giúp trị đau hầu họng.

– Dân ở một số nơi còn nghiền nhỏ thịt trái cóc để chế món ăn có mùi thơm dễ chịu, tác dụng tiêu thực.

– Cha ông ta từ lâu cũng đã sử dụng vỏ cây cóc làm nguyên liệu trong bài thuốc trị tiêu chảy, hiện Đông y vẫn dùng và cho hiệu quả tốt. Đó là lấy vỏ cây cóc và vỏ cây chiêu liêu nghệ, sắc uống (lấy khoảng 4 miếng vỏ cây của 2 loại, mỗi miếng bằng ngón tay cái, nấu với 750 ml nước còn 250 ml, chia làm 3 lần uống trong ngày).

Để bảo vệ sức khỏe của bạn bằng việc dùng rau rừng thường xuyên, đừng ngần ngại hãy gọi ngay cho Cơ Sở Như Bình theo số 091 222 02 01 để được tư vấn chi tiết hơn.

MIỄN PHÍ ĐỔI TRẢ

1 - 3 NGÀY LÀM VIỆC

GIAO HÀNG NHANH

TẬN NƠI TRÊN TOÀN QUỐC

CAM KẾT

GIÁ TỐT NHẤT

SẢN PHẨM TỐT - GIÁ CẢ PHẢI CHĂNG CÒN ĐỢI GÌ NỮA NHẤC ĐIỆN THOẠI LÊN

TOP