VỪA LÀ MÓN ĂN

RAU RỪNG TÂY NINH

VỪA LÀ BÀI THUỐC TRỊ BÁ BỆNH

MÓN ĂN MỚI LẠ

RAU RỪNG TÂY NINH

PHÒNG BỆNH NAN Y

BÒ TƠ - BÁNH XÈO - THỊT LUỘC

RAU RỪNG TÂY NINH

CUỐN KÈM BÁNH TRÁNG PHƠI SƯƠNG

PREV
NEXT

NẾU BẠN CÓ BẤT KỲ THẮC MẮC NÀO VỀ MÓN ĐẶC SẢN RAU RỪNG TÂY NINH NÀY, HÃY LIÊN HỆ VỚI NHƯ BÌNH NGAY NHÉ!

GIỚI THIỆU CƠ SỞ BÁNH TRÁNG MUỐI NHƯ BÌNH

Chúng tôi tự hào là cơ sở có kinh nghiệm lâu năm nhất nhì tại Tây Ninh

Nhắc đến Tây Ninh, chắc hẳn ai ai chẳng nghĩ ngay đến một vùng đất trung du đầy nắng và gió với cái nóng oi ả, nhưng không vì thế mà Tây Ninh không tự tạo ra cho mình những nét đẹp riêng, từ những danh lam thắng cảnh nổi tiếng như di tích lịch sử núi Bà Đen cao gần 1 km, nơi cội nguồn của đạo Cao Đài – Tòa Thánh Tây Ninh, cho đến những món ăn đặc sản Tây Ninh nổi tiếng không những ở trong nước mà còn lan ra nước bạn như món bánh canh Trảng Bàng, bánh tráng phơi sương và muối tôm Tây Ninh … Nhưng ngoài ra ít ai biết đến 1 món ăn đặc sản khác nữa cũng mới nổi lên gần đây đó là rau rừng Tây Ninh.

Rau rừng Tây Ninh là tập hợp nhiều loại rau tự nhiên được tìm kiếm và hái trực tiếp ở ven sông, rạch. Sở dĩ nó nổi lên gần đây là do sự kết hợp mùa vị đặc trưng của nó khi dùng chung với các món ăn có cuốn với bánh tráng như bò tơ, thịt luộc, bánh xèo… không lẫn vào đâu được. Ngoài ra, nó còn có tác dụng như một bài thuốc nam giúp phòng ngừa và chữa trị rất nhiều bệnh.

Là một trong những người con của huyện Trảng Bàng tỉnh Tây Ninh, cơ sở bánh tráng muối Như Bình đã và đang tiếp tục duy trì, phát huy những tinh túy mà thiên nhiên đã ưu đãi để góp phần đóng góp cho nền văn hóa ẩm thực độc đáo, đa dạng của Tây Ninh nói riêng và quê hương Việt Nam nói chung. Được thành lập từ năm 1990, sau hơn 20 năm gắn bó với nghề, cơ sở bánh tráng muối Như Bình tự hào là cơ sở lâu năm nhất tại địa phương, và là cơ sở phân phối sản phẩm cho hầu hết các chợ đầu mối, nhà hàng, quán ăn, siêu thị.

Đặc sản Tây Ninh khó chối từ

4 LÝ DO BẠN NÊN CHỌN RAU RỪNG TÂY NINH CỦA CƠ SỞ NHƯ BÌNH

NGUỒN HÀNG ỔN ĐỊNH

Như Bình hiện đang cung cấp 200kg rau rừng Tây Ninh mỗi ngày trên toàn quốc trong điều kiện thời tiết bình thường.

RAU GIỮ ĐƯỢC LÂU

Do rau rừng được hái vào buổi tối để chuẩn bị giao cho khách hàng vào sáng mai nên rau luôn tươi đến 5 ngày.

CÁC MÓN ĐI KÈM

Rau rừng Tây Ninh thường ăn với bánh tráng phơi sương và nước chấm, Như Bình có cung cấp đầy đủ với giá gốc.

GIAO HÀNG TOÀN QUỐC

Do có hệ thống kinh doanh bánh tráng, Như Bình có thể giao hàng đến 64 tỉnh thành qua đường bộ và hàng không.

CÁC LOẠI RAU THƯỜNG CÓ TRONG RAU RỪNG TÂY NINH CỦA CƠ SỞ NHƯ BÌNH

        

Tên khoa học: Cosmos caudatus Kunth,

Phân bổ:

  • Ở Việt Nam tên gọi cây “Rau nhái” và cây “Sao nhái” có sự lẫn lộn và chồng chéo giữa ba miền. Tuy nhiên ở Miền Nam thì được gọi là cây Rau nhái.
  • Cây rau nhái ở Việt Nam mọc phổ biến ở Đồng bằng sông Cửu Long chính là loài cúc tây hoang dại có tên khoa học là (Cosmos caudatus), là loài thực vật Nam Mỹ xâm nhập (có thể từ Philippines) và trở thành loài cỏ dại trên ruộng, vườn, nương, rẫy…
  • Cây sao nhái (Cosmos bipinnatus) là loài cúc tây trồng có khi cũng được gọi là cây Rau nhái cũng có nguồn gốc tương tự.

Mô tả:

  • Thuộc loài cây thân thảo hằng niên. Thường mọc hoang cặp theo bờ ruộng, trên vườn đất ẩm, trên nương, rẫy… loài cây này cạnh tranh mạnh trong quần thể cỏ dại hai lá mầm.
  • Thân: Cây thân thảo mọc đứng, chiều cao biến động từ 0,3 - 2 m (có thể đến 3 m). Vỏ thân màu xanh nhạt có nhiều phớt tím, trơn láng hoặc có lông thưa.
  • Rễ: Rễ trụ, có nhiều rễ con, mọc mạnh trong đất ẩm.
  • Lá: Lá kép 3 lần, mọc so le, gốc cuống phát triển thành bẹ, cuống dài 1-7 cm, bề dài của lá kép 10-20 cm, lá chét mọc đối diện (bipinnate), có 1 lá chét ở đỉnh. Lá chét hình thon đỉnh nhọn đơn giản, gân lá hình lông chim, lá non và lá già đều mềm.
  • Hoa: Hoa mọc đơn độc hoặc từng cụm với vài hoa. Hoa kép mọc ở phần đỉnh của cây. Cụm hoa hình đầu, trên cuống chung dài, mảnh đơn độc hay hợp thành thuỳ thưa. Lá bắc tổng bao dạng thuôn hình giáo nhọn đầu. Vòng hoa ngoài có cánh môi lớn, mỏng có gân và đỉnh chia răng không đều màu hồng phớt tím (để phân biệt các loài tương cận có hoa màu tím, màu vàng hay màu cam). Hoa ở giữa hình ống nhỏ, màu vàng. Trong tự nhiên cây ra hoa sau mọc khoảng 1 tháng, cây ra hoa mạnh trong các tháng 6-11.
  • Quả: Quả bế thuôn có mỏ, mổi hoa có 5-10 quả.

Thành phần hóa học:

  • Theo các tài liệu của Indonesia, Norazlina Mohamed et al. (2012), trong lá cây rau nhái chứa 0,3% protein, 0.4% chất béo và carbohydrate. Trong lá giàu lacsium và vitamin A.
  • Lá rau nhái chứa đến 20 chất có tác dụng chống oxy hóa (AEAC) đã được xác định. Các chất chống oxy hóa chính là các protosianidin trong dimer như: hecsamer, cuersetin glycoside, axit chlorogenic, axit neochlorogenic, axit kripto-chlorogenic…
  • Trong 100 gram lá rau nhái tươi chứa 2400 mg L-acid ascorbic (Vitamin C) nên là nguồn cung cấp Vitamin C rẻ nhất.
  • Thành phần chất carbohydrate, protein, muối khoáng và vitamin trong lá rau nhái hơn hẳn so với bắp cải và nhiều loại rau thông dụng khác.

Công dụng:

  1. Lá rau nhái được dùng để làm rau.
  • Lá rau nhái dù non hay già đều mềm và ăn sống được, hương vị lá có mùi hương thơm nhẹ của quả xoài nên rất dễ ăn.
  • Lá rau nhái có thể dùng để ăn sống, bóp gỏi, xào, nấu với nhiều món khác nhau.
  • Ở Việt Nam: Lá rau nhái được người dân vùng ĐBSCL dùng làm món rau sống ăn riêng hoặc ăn chung với nhiều loại rau tập tàng khác. Rau nhái thường được ăn với cá linh, cá đồng kho, thịt kho, mắm kho…trong những bữa cơm dân dã, đạm bạc ở miền quê.
  • Lá rau nhái còn được dùng để ăn với bánh xèo, làm nộm, bóp gỏi, làm nhân bánh tráng cuốn, xào, nấu canh, nhúng lẩu…
  1. Lá rau nhái dùng làm dược liệu

Theo Đông y: Người Malaysia, Indonesia và Philippines rất thích ăn rau nhái vì họ cho rằng nó có lợi cho sức khỏe. Các bài thuốc dân gian ở các nước này cho rằng cây Rau nhái có tác dụng lọc sạch và làm tăng lượng máu. Được dùng để giải độc và bồi dưỡng xương. Trong y học dân gian Indonesia cây Rau nhái được dùng để làm thuốc bổ máu, trị các cơn co thắt tử cung và ngăn ngừa hay chữa trị những bệnh như tiểu đường, cao huyết áp, sốt và ho.

Theo Tây y: Cây rau nhái được mệnh danh là “Vua các loài rau” ở Indinesia từ hàng trăm năm qua nên được ngành Đông và Tây Y của nước này nghiên cứu rất tỷ mỷ. Trong lá cây Rau nhái có trên 20 hóa chất chống oxy hóa. Các chất chiết xuất từ cây Rau nhái trở thành một nguồn tuyệt vời của chất chống oxy hóa và chống lão hóa. (Norazlina Mohamed et al. 2012). Trong 100 gam lá Rau nhái có chứa 2400 mg L-ascorbic acid (Vitamin C) có tác dụng tương đương chất chống oxy hóa (AEAC).(Shui et al., 2005). Các chất chống oxy hóa tổng hợp nhân tạo như butylated hydroxytoluene (BHT) và butylated hydroxyanisole (BHA) mặc dù đã được sử dụng trong y tế nhưng có tác dụng tiêu cực, do đó dùng thực vật như cây Rau nhái là một tiềm năng như là một nguồn mới về dược phẩm thay thế có nguồn gốc từ thiên nhiên.(Barlow, 1990). Dùng dịch chiết lá rau nhái với liều lượng 500 mg/kg (ở mức an toàn) để điều trị bệnh loãng xương hoặc bổ xung dịch chiết lá rau nhái 500 mg/kg với Canci và Vitamin E trong điều trị bệnh loãng xương. Cho nên cần duy trì thói quen ăn lá rau nhái trong nhân dân để ngăn ngừa bệnh loãng xương ở người lớn tuổi, nhất là ở phụ nữ đã qua thời kỳ mãn kinh.

       

Tên khoa học: Limnophila rugosa (Roth)

Phân bổ:

  • Chúng sống nhiều ở Ấn Độ, Nepal, Myanmar, miền Nam Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Malaysia, Indonesia, Philippines, Singapore, Việt Nam.
  • Đây là loại rau gia vị xuất hiện trong nhiều món ăn của người Việt. Ở nước ta, rau quế vị mọc lẫn trong các bãi cỏ dọc sông hồ, ruộng rạch từ Hòa Bình, Quảng Ninh tới Vĩnh Long, Cần Thơ. Rau quế vị dùng tươi sống và là gia vị không thể thiếu trong các món ăn của người Nam bộ.

Mô tả: Là loại cỏ nằm và đứng, cao đến 40cm, lóng tròn dài 10 -20cm, có lông mịn, có rễ bất định.Lá to, có ít lông mặt dưới, đáy tà hay tà tròn.

Công dụng:

  1. Dùng làm rau sống: Rau quế vị tỏa tinh dầu thơm mùi xá xị, là loại rau không thể thiếu trong rổ rau sống của món bánh tráng Trảng Bàng. Vị của rau quế vị luôn để lại ấn tượng đối với người dùng qua món bánh tráng,bánh xèo và một số món cuốn khác. Rau quế có vị cay nồng, tính bình. Đồng thời còn có tác dụng thanh nhiệt, giảm ho và các cơn đau.
  2. Chữa bệnh
  • Ở nhiều nước, người ta còn xem rau quế vị như một loại thảo dược phòng được nhiều bệnh. Tại Indonesia, nước sắc từ rau quế vị được dùng để chữa bệnh suy nhược cơ thể.
  • Với người Philippines, nước rau này được dùng uống phổ biến như nước trà xanh. Ở Trung Quốc, người ta dùng cây này trị cảm, viêm họng, phổi nóng sinh ho, viêm phế quản, đau dạ dày hay trị mụn.
  • Ngoài ra, rau quế vị còn được chiết xuất để lấy tinh dầu vì chúng có mùi giống húng quế và hồi.

      

Tên khoa học: Barringtonia asiatica (L.) Kurz

Phân bổ: Chi Lộc vừng (Barringtonia) là cây bản địa vùng Đông Nam Á và Australia, được phân bố ở Trung Á (Afghanistan ), Nam Á (Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh), Đông Nam Á (Thái Lan, Việt Nam, Cam puchia, Philippines, Indonesia) và Châu Úc (Australia, Queenland)…Thường là những loài cây hoang dại hoặc được trồng để làm rau và cây cảnh. Ở Việt nam loài này mọc hoang ở vùng ven biển Nam Bộ và vùng ngập lũ Đồng Tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên.

Mô tả

  • Thân: Đây là một loài cây gỗ cao 7-25 m.
  • Lá: Các lá hình thuôn hẹp , dài 20-40 cm và rộng 10-20 cm chiều rộng. Lá non mềm, bóng, màu xanh tím, có vị chát, hơi chua, nên được nhiều người thích dùng làm rau.
  • Hoa: Hoa lớn, màu hồng trắng, hoa tỏa mùi hương ngọt ngào thu hút dơi và bướm đêm để thụ phấn.
  • Quả: Loài quả lộc vừng có có mặt cắt ngang giữa quả có hình hộp nên trong tiếng Anh còn gọi là Boxtree. Đây là một đặc điểm để căn cứ phân loại, những loài tiết diện ngang của quả hình tròn được xem là biến thể của loài này, có thể được phân chia thành loài khác hoặc không, chính đặc điểm này gây ra nhiều rắc rối trong việc phân loại cây lộc vừng.
  • Hạt: Hạt có vỏ rắn, dường kính 4-5 cm.

Thành phần hóa học: Tất cả các bộ phận của cây đều có chứa chất độc hại , chất độc hại điển hình là các hoạt chất saponin. Các hợp chất độc Saponins có nhiều nhất trong quả cây lộc vừng (có nhiều nhất ở cây lộc vừng hay rau vừngNam Bộ (Barringtonia asiatica ). Ở nhiều nước Nam Á và Đông Nam Á người ta đâm nát quả lộc vừng để rải xuống ao, hồ làm chất độc thuốc cá. Chất độc này có tác làm cho cá ngột ngạc, bị khờ và nổi lên để dể bắt. Nhưng chất độc trong thịt cá ở hàm lượng thấp không đủ gây độc cho người ăn cá.

Công dụng

  1. Dùng làm rau sống.
  • Về hương vị, màu sắc và cảm quan, đọt và lá cây lộc vừng rất được ưa chuộng để dùng làm rau ở một số nước vùng Đông Nam Á, đặc biệt ở Nam Bộ Việt Nam lá lộc vừng được xem như một loại rau đặc sản để ăn sống và nấu canh chua.
  • Người Châu Âu rất sợ ăn lá cây lộc vừng vì chất độc nhất là các chất Saponins có trong loại cây này. Họ cho rằng người Việt Nam và một số nước Đông Nam Á ăn rau lộc vừng theo kiểu “ điếc không sợ súng”!
  • Bản thân tác giả đề nghị người Việt nam ta nên hạn chế và tốt nhất không nên ăn rau từ các loài cây lộc vừng và nhắn gửi những người đã đọc qua trang web này có lời khuyên nên tránh ăn rau lộc vừng, mặc dù hiện nay có nhiều người ca tụng loại rau này, trong đó có những nhà hàng sang trọng đang quảng cáo rau rừng như một mốt thời đại!
  1. Các bộ phận cây lộc vừng dùng làm thuốc chữa bệnh

Theo Đông y: vỏ cây bứa có tính săn da và hơi đắng, mát, hơi độc, có tác dụng tiêu viêm, hạ nhiệt, làm săn da, hàn vết thương. Thu hái vỏ quanh năm, cạo bỏ lớp vỏ ngoài, thái nhỏ, phơi khô. Công dụng, chỉ định và phối hợp: Rễ được dùng trị bệnh sởi. Quả dùng trị ho và hen suyễn. Nhân hạt giã ra thêm bột và dầu, dùng trị ỉa chảy. Hạt được dùng trị các cơn đau bụng, và bệnh về mắt, còn dùng để duốc cá. Quả lộc vừng xanh ép nước bôi chữa chàm hoặc ngâm rượu trị nhức răng. Vỏ cây chứa nhiều tanin, dùng chữa bệnh tiêu chảy, đau bụng.

Theo Tây y: Trong cây lộc vừng hoa đỏ có các hoạt chất trong dịch chiết của rễ và quả cây lộc vừng (Barringtonia acutangula) được xác định:

  • Có tác dụng chống viêm: được sản xuất dạng tân dược.
  • Sản xuất thuốc kháng sinh: có triển vọng.
  • Tác dụng chống loài vi trùng gây viêm loát dạ dày, tá tràng.
  • Chất chiết của hạt lộc vừng hoa đỏ (Barringtonia acutangula) có tác dụng chống ung thư.
  • Chất chiết trong vỏ và hạt cây lộc vừng có tác dụng giảm đau
  • Chất chiết trong vỏ và hạt cây lộc vừng có tác dụng kháng nấm

        

Tên khoa học: Spondias dulcis L.

Nguồn gốc: Có 3 giả thuyết:

  • Giả thuyết thứ nhất cho là Chi Cóc có hai nguồn gốc Phát sinh: Nguồn gốc phát sinh thứ nhất ở Đông Nam Á và nguồn gốc thứ hai ở Nam Mỹ. Giả thuyết này ít được chấp nhận vì các loài cùng 1 Chi không thể có hai nguồn gốc phát sinh ở hai vùng địa lý rất xa nhau.
  • Giả thuyết thứ hai cho là Chi Cóc phát sinh từ Nam Á, sau đó di chuyển sang vùng Đông Nam Á rồi đến các đảo Thái Bình Dương và cuối cùng đến Nam Mỹ.
  • Giả thuyết thứ ba cho là Chi Cóc có xuất xứ từ vùng Melanesia- Polynesia (Châu Đại dương) và sau đó được du nhập để trồng tại các vùng nhiệt đới của cả Cựu lẫn Tân Thế giới.

Mô tả

  • Thân: Cây cóc thuộc loại cây thân mộc cở lớn, mọc nhanh, cao 8-18 m, trung bình 9-12 m, phân nhánh nhiều, cành dòn dễ gẫy.
  • Lá: Lá kép, lẻ, to, dài 20-60 cm, mọc ở ngọn nhánh; lá mang 7-12 đôi lá chét dài 6.25-10 cm, hình thuôn tròn; mép lá có răng cưa. Vào đầu mua khô, lá cây chuyển đổi sang màu vàng tươi, rụng.
  • Hoa: Hoa mọc thành chùy to, có thể dài đến 30 cm, chùy mang ít hoa thường thòng xuống. Hoa nhỏ, màu trắng, có 10 nhị.
  • Quả: Quả thuộc loại quả hạch, hình trứng hay hình bầu dục, dài 6-8 cm, rộng 4-5 cm, da ngoài vàng-cam; thịt màu vàng-xanh nhạt, dòn, vị chua; Quả mọc thành chùm từ 2-12 quả , thòng xuống.
  • Hạt: Hạt khá lớn hình bầu dục có nhiều gai dạng sợi dính chặt với thịt, có 5,6 ô cách nhau không đều.

Thành phần hóa học: Qua phân tích, các nhà khoa học đã chứng minh được thành phần lá cóc như sau: glucid 8% -10,5%; protein 0,5% - 0,8%; lipid 0,3% - 1,8%; cellulose 0,9% - 3,6%; tro 0,4% - 0,7%; acid 0,4% - 0,8%.Trong 100 g thịt của trái cóc chứa tới 42 mg acid ascorbic, ngoài ra còn có nhiều chất sắt (Fe).

Công dụng: Dân Nam Bộ thường dùng trái cóc còn xanh, gọt vỏ rồi ngâm trong một thứ nước pha mặn, ngọt, sau đó thoa lên một lớpmuối ớt đo đỏ trông rất hấp dẫn, bày bán nhiều nơi. Có người lại thích ăn cóc chín vì có thịt mềm, ngọt, nhiều nước, hương vị thơm ngon. Tuy nhiên, món gỏi cóc xanh với tôm khô, cá khô thì đúng điệu là món nhậu “đặc sản Nam Bộ”.

  1. Dùng làm rau sống.
  • Việt Nam, Indonesia, Malaysia lá và đọt cóc non có vị chua thanh, thơm nên được dùng làm rau ghém.
  • Nam Bộ lá và đọt cóc non dược dùng chung với rau tập tàng. Lá cóc non còn được làm rau để nấu canh chua hoặc xắt nhỏ để bóp gỏi.
  • Indonesia lá cóc non được ăn kèm với mắm tôm.
  • Malaysia lá cóc non dược dùng chung với rau tập tàng.
  1. Chữa bệnh
  • Trái cóc từ lâu đã được ghi nhận là có tác dụng kích thích tiêu hóa, giúp ăn ngon miệng, giải nhiệt, sinh tân dịch, giải khát.
  • Nhai thật kỹ trái cóc với chút muối rồi nuốt dần còn giúp trị đau hầu họng.
  • Dân ở một số nơi còn nghiền nhỏ thịt trái cóc để chế món ăn có mùi thơm dễ chịu, tác dụng tiêu thực.
  • Cha ông ta từ lâu cũng đã sử dụng vỏ cây cóc làm nguyên liệu trong bài thuốc trị tiêu chảy, hiện Đông y vẫn dùng và cho hiệu quả tốt. Đó là lấy vỏ cây cóc và vỏ cây chiêu liêu nghệ, sắc uống (lấy khoảng 4 miếng vỏ cây của 2 loại, mỗi miếng bằng ngón tay cái, nấu với 750 ml nước còn 250 ml, chia làm 3 lần uống trong ngày)

      

Tên khoa học: Acronychia Pedunculata

Phân bổ: Còn được gọi là bái bái. Cây của Ðông Dương và Viễn Ðông, thường mọc ở trong rừng thứ sinh, rừng còi, ven rừng và đồi cây bụi vùng trung du và miền núi từ Hoà Bình, Vĩnh Phú, Hà Bắc đến các tỉnh phía Nam. Các bộ phẩn của cây được hái quanh năm đem thái phiến, phơi khô. Còn quả thì thu hái vào mùa thu - đông, đồ với nước nóng rồi phơi.

Mô tả: Cây Bí Bái thuộc bộ Bồ Hòn, họ Cam.

  • Cây gỗ nhỏ thường xanh cao 5-10m. Cành già màu nâu đỏ, vỏ có mùi xoài.
  • Lá mọc đối phiến hình trái xoan thuôn dài 5-15cm, rộng 2,5-6cm, có những điểm tuyến tiết tinh dầu; lá non có lông, lá già nhẵn; cuống dài phù ở hai đầu, cũng thơm mùi xoài.
  • Cụm hoa hình ngù, mọc ở nách lá hay đầu cành.
  • Hoa trắng xanh xanh, thơm, có 4 lá đài, 4 cánh hoa, 6 nhị và bầu 1 ô.
  • Quả hạch hình cầu nạc, có múi, khi chín màu vàng nhạt hay trắng hồng, ngọt, thơm thơm, ăn - được; hạt dài, cứng, đen..
  • Ra hoa tháng 4-6; có quả tháng 6-8.

Thành phần hóa học: Lá chứa 1,25% tinh dầu; còn có alcaloid acronycin.

Công dụng:

  1. Lá rau bí bái được dùng để làm rau: Lá Bí Bái non ăn sống được, hương vị lá có mùi hương thơm nhẹ của quả xoài nên rất dễ ăn. Lá rau bí bái có thể dùng để ăn sống, bóp gỏi, xào, nấu với nhiều món khác nhau.
  2. Lá rau bí bái dùng làm dược liệu
  • Trị đau thấp khớp, đau dạ dày, đau thoát vị.
  • Chán ăn, đầy bụng, khó tiêu.
  • Cảm mạo, ho.
  • Phù lôi. Liều dùng 10-15g, dạng thuốc sắc. Dùng ngoài chữa ghẻ chốc, mụn nhọt, đòn ngã tổn thương, lấy vỏ thân, lá nấu nước cho đặc để tắm, xát. Nhân dân ta thường dùng lá sắc uống chữa đau dạ dày và các chứng sưng đau. Còn dùng lá sao vàng, nấu nước cho sản phụ uống thay chè giúp ăn ngon cơm và thông huyết ứ. Lại có tác dụng trị phù lỏi.
  • Ở Inđônêxia (Java) vỏ thân được dùng trị lỵ và lợi tiểu. Lá non cũng dùng ăn.
  • Ấn Độ, rễ, chồi và quả dùng chế nước tắm kích thích. Nhựa của rễ cũng được dùng xoa kích thích trong bệnh thấp khớp.

   

Tên khoa học: Cynometra ramiflora Linn.

Phân bổ: Cây đọt mọt có nguồn gốc Châu Á. Loài cây này phân bố từ Ấn Ðộ qua Ðông Nam Á (Việt Nam, Thái Lan, Philippines, Malaysia) đến các đảo Thái Bình Dương. Ở Việt Nam, thường gặp trong các rừng ngập mặn, dựa rạch nước lợ.

Mô tả:

  • Thân: Cây thân gỗ cao tới 15-30m, với lá thường rũ xuống. Cây gỗ màu nâu đỏ, chỉ dùng làm củi đun.
  • Lá: Lá kép chẵn, gồm 2 cặp lá chét màu trắng rồi hồng, xanh, mềm, hình trái xoan ngược hay thon hoặc hơi hình lưỡi liềm; cặp ở trên dài 5-10 (20) cm, rộng 2-4,5 (7,5) cm, không cân xứng ở gốc, nhọn hoặc lõm tròm ở đầu.
  • Cụm hoa gồm 1-2 chùm ngắn ở nách lá, số lượng hoa không nhiều, màu trắng rồi nâu. Ra hoa tháng 6-8.
  • Quả: Quả hoá gỗ, dài 2-3cm, có lông hoặc nhẵn, bề mặt xù xì, màu nâu, chứa 2-3 hạt. Có quả tháng 9-10 tới tháng 1-5.

Thành phần hoá học: Hạt chứa nhựa dầu (42%).

Công dụng: Bộ phận dùng: Lá, rễ, dầu hạt - Folium, Radix et Oleum Cynometrae.

1/ Dùng làm rau

  • Lá đọt mọt non có vị chua được dùng làm rau ăn sống, thường ăn với lẩu mắm. Lá non mềm và mịn như nhung, phơn phớt vàng như màu tơ tằm, có vị chát chát, chua chua và ngòn ngọt.
  • Dân miệt vườn thường ăn lá đọt mọt non với cá bống, cá cơm, cá lòng tong và các món cá kho tiêu, kho tộ khác. Có thể ăn với cá cơm, cá mồng gà kho tương, cá linh nấu mặn. Bánh xèo càng thêm hương vị nếu có thêm lá đọt mọt.

2/ Dùng làm thuốc

Theo Đông y: Ở Ấn Ðộ, người ta dùng lá nấu sôi trong sữa bò và thêm mật ong vào dùng đắp ngoài chữa phong hủi, ghẻ và bệnh ngoài da. Dầu hạt cũng dùng trị phong, ghẻ và bệnh ngoài da. Còn rễ dùng làm thuốc tẩy xổ.

Theo Tây y: Các nghiên cứu về lá đọt mọt trong Tây y cho biết:

  • Hoạt động chống ung thư Cytotoxic: Nghiên cứu điều tra những tác động gây độc tế bào của các chất chiết xuất từ 16 cây dược liệu khác nhau từ Bangladesh, bao gồm cả cây đọt mọt (Cynometra ramiflora), cho thấy lá đọt mọt có tác dụng chống lại các tế bào ung thư dạ dày, ung thư ruột kết và các dòng tế bào ung thư vú của con người. Lá đọt mọt gây độc tính thấp đối với nguyên bào sợi chuột nhưng gây độc tế bào chọn lọc đối với các dòng tế bào ung thư khác nhau.
  • Phytochemical/kháng khuẩn: Phytochemical sàng lọc có tác dụng chống viêm nướu răng, tạo giảm đường, tannin và saponin. Nghiên cứu cho thấy hoạt tính kháng khuẩn E coli, tụ cầu khuẩn lớp biểu bì, Shigella dysenteriae, Enterococci, S sonnei, S aureus, S typhi, S flexneri và Vibrio cholera ở mức trung bình trở lên.
  • Làm giảm glucose máu: Thực nghiệm cho thấy lá đọt mọt (Cynometra ramiflora ) đã được tìm thấy làm giảm đáng kể mức đường huyết sau ăn của những con chuột thí nghiệm cho ăn trực tiếp đường sucrose.

      

Tên khoa học : Lantana camara

Phân bổ: Trâm Ổi gốc ở Trung Mỹ, được nhập trồng làm cảnh, nay phổ biến rộng rãi, mọc hoang ở các bãi đất trống, đồi núi, ven bờ biển. Các bộ phận của cây thu hái vào mùa khô, phơi hay sấy khô. Cũng có khi dùng tươi làm rau ăn với các loại bánh tráng phơi sương.

Mô tả:

  • Cây nhỏ, cao tới 1,5m-2m hay hơn.
  • Thân có gai; cành dài, hình vuông, có gai ngắn và lông ráp. Lá mọc đối, khía rạng, mặt dưới có lông.
  • Lá hình bầu dục, nhọn, mặt lá xù xì, mép lá có răng cưa; mặt trên có lông ngắn cứng, mặt dưới lông mềm hơn; phiến lá dài 3–9 cm, rộng 3–6 cm; cuống lá ngắn, phía trên cuống có dìa.
  • Cụm hoa là những bông co lại thành đầu giả mọc ở nách các lá ở ngọn.
  • Hoa lưỡng tính, không đều, thoạt tiên vàng dợi rồi vàng kim, vàng tươi, sau cùng đỏ chói, ít khi toàn hoa trắng.
  • Quả bạch hình cầu, nằm trong lá dài, khi chín màu đen; nhân gồm 1-2 hạt cứng, xù xì.

Thành phần hoá học:

  • Lá chứa 0,2% tinh dầu; ở hoa khô chỉ có 0,07%. Tinh dầu có 8% terpen bicyclic và 10-12% L-a-phelandren.
  • Tinh dầu bông ổi Ấn Độ chứa cameren, isocameren và micranen.
  • Trong vỏ có 0,08% lantanin, là một alcaloid.
  • Lá trong thời kỳ có hoa chứa 0,31-0,68% lantanin, còn có lantaden.

Công dụng

  1. Dùng làm rau
  • Các bộ phận của cây thu hái vào mùa khô, phơi hay sấy khô. Cũng có khi dùng tươi làm rau.
  • Rễ thường dùng trị sốt lâu không dứt, quai bị, phong thấp đau xương, chấn thương bầm giáp.
  • Hoa dùng trị lao với ho ra máu và hạ huyết áp. Liều dùng 30-60g, dạng thuốc sắc.
  • Lá dùng ngoài đắp vết thương, vết loét hoặc dùng để cầm máu; cũng dùng trị ghẻ lở, viêm da, các vết chàm và dùng chườm nóng trị thấp khớp. Thường dùng tươi giã đắp ngoài hay nấu nước để rửa.
  • Hoa Trâm Ổi dùng làm thuốc trị ho với liều 12g, dạng thuốc sắc hay hâm nóng hoặc chế xi rô.
  1. Dùng chữa bệnh
  • Viêm da, eczema, tinea, mụn nhọt, nấu lá tươi để rửa ngoài.
  • Chấn thương bầm giập, vết thương chảy máu, giã lá tươi đắp ngoài. Hoặc dùng 30g lá khô, với 10g gừng khô tán bột rắc lên vết thương ngày một lần.
  • Ho ra máu và lao phổi, dùng hoa khô 6-10g nấu nước uống.

      

Tên khoa học: Blumea lanceolaria

Phân bổ: Thường mọc tự nhiên trong vườn hoặc trong rừng ở cao độ thấp do gió thổi các quả bế có lông đi khắp nơi và được trồng ở nhiều nơi trong vùng Nam Á và Đông Nam Á, Hoa Nam, Đài Loan...

Mô tả:

  • Cây thảo, cao hơn 0,6–2 m, sống 2 năm.
  • Thân thẳng đứng, có rãnh dọc, gần nhẵn.
  • Lá trứng thuôn dài, mép có răng cưa, những lá phía trên nhỏ hơn.
  • Cụm hoa hình đầu, mọc 2 - 4 cái ở nách các lá bắc.
  • Cụm hoa hình đầu màu vàng nhạt, thành chùy dài ở ngọn, mào lông màu trắng.
  • Tràng hoa cái rất mảnh, 3 răng; tràng hoa lưỡng tính 5 răng, nhị 5. Bao phấn có tai. Bầu có lông.
  • Quả bế hình trụ, 5 cạnh.

Thành phần hoá học: Lá chứa tinh dầu 0,24% mà thành phần chủ yếu là methylthymol (94,96%); còn có p-cymen (3,28%), limonen (0,12%).

Công dụng:

  • Lá có mùi hơi hăng của dầu, khá đặc trưng không giống các loại rau thơm khác, nên được dùng chủ yếu làm gia vị, nấu canh.
  • Lá Xương sông non được dùng ăn gỏi cá, gỏi chả nướng và cũng dùng làm gia vị (băm ra ngâm muối vài ngày) hoặc nấu với thịt cá.
  • Và thường dùng để chữa:
  1. Cảm sốt, ho, viêm họng, viêm phế quản.
  2. Tưa mồm, trắng lưỡi, viêm miệng.
  3. Ðầy bụng đi ngoài, nôn mửa.
  4. Sốt co giật ở trẻ em.

Liều dùng 15-20g dạng thuốc sắc. Có thể dùng lá tươi ngậm hoặc chiết lấy nước uống.

Dùng ngoài, giã nát, xào nóng chườm lên những chỗ sưng tấy, đau nhức, Thấp khớp.

      

Tên khoa học: Antidesma ghaesembilla Gaertn.

Phân bổ: Loài phân bố từ Ấn Độ tới Malaysia và châu Ðại Dương. Ở Việt Nam cây chòi mòi mọc hoang ven rừng,trong rừng thưa và đôi khi ở vùng đồng bằng.

Mô tả:

  • Cây gỗ nhỏ cao 3-8m. Nhánh cong queo, có lông thưa, sau nhẵn và có màu xám nhạt.
  • Lá hình bầu dục hay hình thoi hẹp hoặc bầu dục tròn, có khi hình tim, mặt dưới đầy lông như nhung.
  • Cụm hoa chuỳ gồm 3-8 bông ở ngọn hay ở nách các lá phía trên.
  • Hoa đực không cuống có 4-5 lá đài; 4-5 nhị có bao phấn hình chữ U; nhuỵ lép có lông.
  • Hoa cái gần như không cuống, có 4 lá đài; bầu có lông mềm, 3-4 đầu nhuỵ.
  • Quả tròn, to 4,5mm, hình bầu dục dẹt. Ra hoa tháng 4-6.
  • Thành phần hóa học: Lá chứa 1,25% tinh dầu; còn có alcaloid acronycin.

Công dụng

1/ Lá và quả chòi mòi dùng làm rau:

  • Lá chòi mòi non có vị hơi chát và hơi chua được dùng làm rau ăn sống, luộc hoặc xào chung với các loại rau tập tàng khác. Tuy nhiên hiện nay cây chòi mòi không còn nhiều nên ít ai lưu ý tới loại rau này.
  • Quả chòi mòi non có vị chua nên được dùng làm rau ghém để tăng khẩu vị cho món rau rừng. Nguyên chùm quả kể cả cuống và quả đều ăn được. Đây là loại rau chua rất hấp dẫn.
  • Quả chòi mòi già có thể dùng làm nguyên liệu lấy chất chua nấu canh.

2/ Quả chòi mòi chín dùng để ăn chơi: Quả chòi mòi khi chín có hạt cứng, phần vỏ quả chuyển thành màu đen, phần thịt quả mọng nước có màu tím. Quả có vị chua ngọt dùng để ăn chơi, rất được trẻ em và các côn thôn nữ ưa thích.

3/ Dùng cây chòi mòi làm cây cảnh: Do cây chòi mòi có nhiều cành cong queo, sống nhiều năm (50-60 năm), có hoa và quả đẹp nên được dùng làm cây cảnh rấp phổ biến ở Việt Nam, Đông Nam Á và Trung Quốc. Loài cây cảnh thường trồng ở dạng Bon sai ở Việt Nam là cây Chòi mòi bụi (Antidesma fruticosa (Lour) Muell-Arg).

4/ Các bộ phận cây chòi mòi dùng làm thuốc

Theo Đông y các bộ phận cây chòi mòi có tình vị và tác dụng như sau:

  • Lá dùng ngoài đắp chữa đau đầu.
  • Cành non dùng để điều kinh.
  • Vỏ cây chữa ỉa chảy và làm thuốc bổ.
  • Hoa chữa tê thấp.
  • Quả có vị chua, ăn được, dùng để chữa ho, sưng phổi. Ở Campuchia, vỏ, cành non và lá được sử dụng nhiều hơn.

      

Tên khoa học: Stenochlaena palustris (Burm. f.) Bedd

Phân bổ: Rau choại là loài thực vật thân thảo dây leo sống hoang dại trong rừng ẩm nhiệt đới (với độ cao đến 400 m) và vùng ven sông rạch nước ngọt, nước lợ và nước mặn có dao động thủy triều. Ở Việt Nam dây choại có nhiều ở vùng Đồng Tháp Mười, Cà Mau, Hậu Giang, Rạch Giá.

Mô tả:

  • Thân dây leo có khả năng leo leo (hoặc bò) rất xa, dài tới 15-20 m, thân có vẩy hơi thưa, xếp lợp. Đọt non (mọc từ gốc) có dạng uốn cong và cuộn chặt nhiều vòng, thân bên dưới cuộn xoắn mềm và dài tới 40-50 cm, chính đọt non mọc từ gốc mới có giá trị làm rau ngon nhất, khi đọt non phát triển các vòng tháo dần ra, phần thân già hóa xơ và rất bền chắc.
  • Lá kép lông chim, mọc so le cách quãng nhau, cuống dài 7-20cm, gân lá chính dài 30-50cm, mổi bên có khoảng 15 lá kép xếp hàng răng lượt giống như lá dừa, phiến lá chét dài 10-15 cm, rộng 3 cm. Khi mới mọc lá cũng uốn cong nhiều vòng sau đó thẳng dần từ gốc lá. Sự bung ra của lá như vậy gọi là kiểu xếp lá hình thoa.
  • Rễ có cấu trúc không quang hợp mọc ngầm dưới đất, có chức năng hút nước và các chất dinh dưỡng từ trong đất. Chúng luôn luôn là rễ chùm và về cấu trúc thì tương tự như rễ của thực vật có hạt.

Công dụng:

1/ Lá và đọt non dây choại dùng làm rau

  • Ở nhiều nước Châu Á lá và đọt non dây choại được dùng làm rau.
  • Có nhiều cách chế biến đọt và lá choại non
  • Dùng làm rau sống: Các chồi non ăn được và dùng trộn giấm (hơi nhớt), ít được ưa chuộng.
  • Luộc: Là cách chế biến đơn giản nhất ở các nước Đông Nam Á.
  • Có khi hái rau choại về luộc chấm mắm cá cơm pha thêm tỏi với ớt bằm.
  • Xào: Là cách chế biến phổ biến nhất.
  • Món đọt choại xào thịt bò
  • Đọt choại xào tép
  • Nấu canh, nhúng lẩu: Là cách thịnh hành nhất hiện nay (là rau rừng cao cấp và hiếm). Canh chua rau choại cũng là một món đặc sản của vùng Đồng Tháp Mười. Loại rau mà có phèn vàng mặt nước vẫn nhởn nhơ lớn lên từng ngày. Vị nhớt cùng vị chát chát, bùi bùi của rau chạy nhà quê hiếm có loại rau trồng nào có được.

2/ Dùng làm dây bện, dây thừng: Thân dây choại rất dài (10-20 m) rất dai và bền, chịu dược lâu trong nước nên được dùng làm dây bện đăng, nò, lộp đánh cá và dây thừng chịu mặn.

3/ Các bộ phận của dây choại dùng làm thuốc

  • Bộ phận dùng: Thân dây -Thu hái dây lá quanh năm, thường dùng tươi.
  • Loại rau này tốt cho sức khoẻ, đặt biệt là cung cấp nguồn chất sắt, và trị được các bệnh về da, sốt rét, sốt và duy trì tuổi thanh xuân.
  • Dùng nước sắc của cây và dịch của nó để uống trị các cơn sốt, nước hãm cây dùng đắp vào đầu để hạ nhiệt, làm mát.

   

Tên khoa học: Horsfielddia irya Warbg

Phân bổ: Săng Máu là loài phân bố ở Việt Nam, Mianma… Ở nước ta, cây mọc rải rác ở hầu khắp các tỉnh từ Quảng Trị tới Lâm Đồng, thành phố Hồ Chí Minh, trong các rừng kín thường xanh, mưa mùa nhiệt đới. Cây ưa ẩm, thường mọc ở ven khe suối.

Mô tả:

  • Đại mộc nhỏ, cao khoảng 7 – 15 m, nhánh mọc ngang.
  • Lá dày, dài đến 30cm, không lông, mặt dưới có gân nổi và có màu rỉ sét.
  • Hoa chùm tụ tán, có lông màu rỉ sét, hoa nhỏ, cành màu vàng nhị màu nâu. Ra hoa từ tháng 5 – 6, chín vào tháng 7 – 8, trái màu xanh , khi chín chuyển qua màu đỏ.
  • Thân thẳng, tỉa cành tự nhiên. Lúc nhỏ vỏ màu xám trắng, trơn.
  • Khi lớn vỏ màu xám sậm và nứt dọc nhưng không sâu. Mọc dọc theo sông rạch ở Bình Dương, TP Hồ Chí Minh…
  • Cây ưa ẩm, chịu đựng được nước ngập của thủy triều. ( theo GS-TS Phạm Hoàng Hộ). Tái sinh chồi mạnh.

Thành phần hoá học: Hạt chứa nhựa dầu (42%).

Công dụng:

  • Lá non có vị chát, hơi chua dùng làm rau sống cùng với các loại rau tự nhiên khác trong món thịt heo cuốn bánh canh Trảng Bàng.
  • Khi mới khai thác, nhựa tươm ra giống như máu. Do đó người ta gọi là Săng Máu. Phơi khô khoảng 10 đến 15 ngày, gỗ xẻ ra có màu hồng nhạt nhưng rất dễ bị mối mọt. Với công nghệ chế biến hiện nay, người ta đã ngâm tẩm tạo ra các sản phẩm có lợi hơn như guốc, bao bỉ, ván lạng dùng làm ván ruột của ván ép dùng trong xây dựng.
  • Chống sạc lở ven sông rạch: Từ lâu con người đã biết tận dụng ưu điểm của thiên nhiên bằng cách trồng săng máu và kết hợp một số loài cây khác dọc theo bờ tiếp xúc với dòng nước nhằm bảo vệ bờ đê vì bộ rể mọc dọc theo bờ sông rạch tạo thành tấm chắn bảo vệ bờ đê, chống lại sự xoáy mòn của dòng chảy hoặc sự va đập của các cơn sóng do tàu, thuyền hoặc gió thổi tạo ra.
  • Tán lá rộng, nhiều tầng, lá dày và to, không cho nước mưa rơi trực tiếp xuống mặt đất, tránh được sự xoáy mòn của nước mưa trên bền mặt của đất.
  • Với đặc điểm ưu việt về tái sinh chồi mạnh. Do đó, bộ rể luôn luôn là tấm chắn sống bảo vệ bờ đê chống lại sự xoáy mòn của nước và tăng thêm độ vững chắc cho bờ đê.

        

Tên khoa học: Garcinia oblongifolia Champ. ex Benth.,

Phân bổ

  • Chi bứa (Garcinia) gồm nhiều loài có nguồn gốc từ miền Nam Châu Phi, Châu Á nhiệt đới, Australia và Polynesia. Loài bứa chua (Garcinia oblongifolia) phân bố nhiều ở các nước Đông Nam Á như Việt Nam, Campuchia và Thái Lan. Các loài bứa ăn được phân bố khắp vùng nhiệt đới Châu Á.
  • Hiện nay nhiều loài trong Chi Bứa đang bị đe dọa do phá hủy môi trường sống, và ít nhất là loài G. cadelliana từ ở đảo Nam Andaman là gần như hoặc thậm chí hoàn toàn tuyệt chủng rồi.
  • Ở Việt nam cây bứa mọc hoang trong rừng thứ sinh của các tỉnh từ Hà Tuyên, Vĩnh Phú đến Quảng Nam - Đà Nẵng, có nhiều ở Miền Trung, Tây nguyên và vùng ven sông rạch Nam Bộ. Do lá và quả ăn được, có vị chua thanh nên được nhân dân gieo trồng ở vườn nhà để làm rau gia vị chủ yếu dùng để nấu canh chua.

Mô tả

  • Thân: Cây gỗ thường xanh cao trung bình 6-7m, có thể đến 10 - 15 m. Cành non thường vuông, xoè ngang và rủ xuống.
  • Lá: Lá hình thuẫn, hơi dài, đuôi nhọn, chóp dài, mép nguyên, nhẵn bóng, có nhiều điểm mờ.
  • Hoa: Hoa đực mọc thành cụm 3-5 hoa ở nách lá, 4 lá đài và 5 cánh hoa, 20 nhị có chỉ nhị ngắn. Hoa lưỡng tính có lá đài và cánh hoa như ở hoa đực, màu hơi vàng hoặc trắng; bầu 4 (6-10) ô, hình cầu, vòi ngắn.
  • Quả: Quả mọng mang đài tồn tại; vỏ quả dày, có khía múi, khi chín màu vàng, phía trong hơi đỏ chứa 6-10 hạt. Mùa hoa quả tháng 3-6.

Thành phần hóa học: Trong quả Bứa có axit hữu cơ, vitamin C (100g có 61mg vitamin C). Trong vỏ có flavonozit.

Công dụng:

  1. Lá bứa, quả bứa dùng làm rau.
  • Lá có vị chua thường được dùng thái nhỏ nấu canh chua.
  • Quả bứa có mùi hương dễ chịu, vị chua, nhiều axit, ăn sống được. Quả được sử dụng làm hương vị chua trong nấu cari, làm gia vị kho cá và siro trong mùa nóng.
  • Hạt có áo hạt chua, ăn được, cũng dùng nấu canh chua.
  • Vị chua của lá hoặc quả cây bứa thay cho me, khi trồng cây bứa thì có lá hoặc quả để nấu canh chua quanh năm, trong khi me phải tùy theo mùa.
  1. Các bộ phận cây bứa dùng làm thuốc

Theo Đông y: vỏ cây bứa có tính săn da và hơi đắng, mát, hơi độc, có tác dụng tiêu viêm, hạ nhiệt, làm săn da, hàn vết thương. Thu hái vỏ quanh năm, cạo bỏ lớp vỏ ngoài, thái nhỏ, phơi khô.

Theo Tây y: cây bứa có thể chữa nhiều bệnh như thấp khớp, đau đường ruột, đau tai, giun sán và bệnh trĩ, lỵ, khối u, đau tim...

CẢM NHẬN CỦA KHÁCH HÀNG VỀ RAU RỪNG TÂY NINH CỦA CƠ SỞ NHƯ BÌNH

Hợp tác với Như Bình đã hơn 3 năm nay, tôi không hề có một lời than phiền nào về chất lượng rau cũng như phong cách phục vụ, vì thế tôi mới an tâm tập trung vào việc kinh doanh.

Anh Tài

Quán ăn Phú Quý
Dù ở tận Hà Nội nhưng rau tôi nhận được của Như Bình hàng ngày luôn tươi nhờ vận chuyển bằng máy bay với cước phí rất cạnh tranh.

Chị Mai Anh

Nhà hàng Hương Sen

Anh Minh

Kiot rau chợ Sơn Kỳ
Rau của Như Bình tuy có cao hơn vài giá so với chỗ khác nhưng rau rất đẹp, nguồn hàng ổn định nên dễ bán hơn nhiều.

TIN TỨC

MIỄN PHÍ GIAO HÀNG TP.HCM

Đơn hàng từ 1 triệu

GIAO HÀNG THU TIỀN

Khách hàng tại Tp. Hồ Chí Minh

MIỄN PHÍ ĐỔI TRẢ

Do lỗi của Như Bình

NẾU BẠN LÀ NGƯỜI QUAN TÂM ĐẾN SỨC KHỎE CỦA MÌNH THÌ RAU RỪNG TÂY NINH LÀ SỰ LỰA CHỌN LÝ TƯỞNG. LIÊN HỆ CHO NHƯ BÌNH NGAY ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN TẬN TÌNH NHẤT

Cơ sở bánh tráng muối Như Bình - Đặc sản Tây Ninh khó chối từ

BẠN CHỈ CẦN ĐỂ LẠI SỐ ĐIỆN THOẠI CHO NHƯ BÌNH QUA CÁC CÁCH SAU ĐỂ ĐƯỢC MIỄN PHÍ TƯ VẤN

(Cần đăng nhập FB trước). Gửi tin nhắn trực tiếp tới Fanpage Facebook

(Cần đăng nhập FB trước). Gửi tin nhắn trực tiếp tới Fanpage Facebook

TOP